“Phúc chu thủy tín dân do thủy” - từ câu thơ Nguyễn Trãi đến mạch nguồn thế trận lòng dân hôm nay

Một câu thơ của Nguyễn Trãi từ nhiều thế kỷ trước vẫn gợi lên một vấn đề có ý nghĩa lâu dài: mối quan hệ giữa nhân dân và vận mệnh đất nước. Từ những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc đến công cuộc xây dựng quê hương hôm nay, sức dân, lòng dân và sự đồng thuận luôn là nguồn lực quan trọng làm nên những thành quả của cách mạng. Qua những câu chuyện và nhân vật cụ thể trên mảnh đất Hưng Yên, bài viết lần theo mạch nguồn ấy để nhìn nhận sâu hơn giá trị của tư tưởng lấy dân làm gốc trong dòng chảy lịch sử và hiện tại.

"Đời mình là một khúc quân hành, đời mình là bài ca chiến sĩ..." Câu hát ấy đã theo tôi suốt những năm tháng quân ngũ, theo tôi qua những chặng đường dài của đất nước. Gần bốn mươi năm, từ Trường Sa bốn bề sóng vỗ đến những vùng cao nguyên đất đỏ Tây Nam hùng vĩ, rồi trở về công tác tại các tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu 3. Mỗi miền đất đi qua để lại trong tôi một dấu ấn, một câu chuyện, một niềm nhớ. Và trong hành trang của người lính năm nào, bên cạnh những kỷ niệm không thể gọi thành tên, tôi luôn giữ một tập thơ của Nguyễn Trãi - Ức Trai thi tập. Tập thơ chữ Hán gồm 105 bài, nhưng có một câu tôi nhớ mãi trong bài Quan Hải: "Phúc chu thủy tín dân do thủy" - người xưa dịch rằng: "Người chở thuyền và lật thuyền cũng là dân."
Một câu thơ đã đi qua hơn nửa thiên niên kỷ mà đến hôm nay vẫn khiến tôi nhiều lần suy ngẫm. Càng sống, càng trải nghiệm, nhất là sau những năm tháng trong quân ngũ và khi trở về với đời thường, tham gia công tác Hội Cựu chiến binh, công tác Mặt trận ở địa phương, tôi càng thấm thía hơn ý nghĩa sâu xa của câu thơ ấy. Đó không chỉ là lời nhắc nhở về vai trò của nhân dân. Đó còn là một chân lý đã được lịch sử dân tộc chứng minh, và cũng chính là nền tảng tư tưởng "lấy dân làm gốc" mà Đảng ta luôn kiên định: sức mạnh của đất nước bắt nguồn từ nhân dân; thắng lợi của mọi sự nghiệp dựng nước, giữ nước và dựng xây đất nước hôm nay, trước hết đều phải dựa vào lòng dân, sức dân.
LÒNG DÂN - CỘI NGUỒN CỦA SỨC MẠNH
Nhìn lại lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua biết bao cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Kẻ thù nhiều lần đến từ những đế quốc hùng mạnh, có quân đội thiện chiến, vũ khí hiện đại. Nhưng cuối cùng, chúng đều phải thất bại trước một dân tộc nhỏ bé mà kiên cường. Điều làm nên sức mạnh ấy không chỉ là súng đạn, không chỉ là tài thao lược của những vị tướng, mà còn là sự đồng lòng của hàng triệu người dân. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dẫn tới công cuộc Bình Ngô, là thắng lợi của một sức mạnh mà chính Nguyễn Trãi từng khái quát bằng những câu thơ đầy hào khí: "Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới; tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào"
"Bốn cõi một nhà" - chỉ mấy chữ mà như mở ra cả một không gian của lòng dân. Khi người dân và người lính cùng chung một niềm tin, khi tướng sĩ coi nhau như cha con, khi cả dân tộc cùng hướng về một mục tiêu, thì những ngọn tre bình dị cũng có thể dựng thành cờ khởi nghĩa, những con người bình thường cũng có thể làm nên những chiến công phi thường.
Đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định sức mạnh ấy trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, năm 1951: "Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng thơ ngây... từ nhân dân miền ngược đến nhân dân miền xuôi, ai ai cũng một lòng yêu nước, ghét giặc." Từ những cụ già đến những em nhỏ, từ miền xuôi đến miền ngược - tất cả cùng chung một lòng. Có lẽ đó chính là hình hài đẹp nhất của hai chữ "lòng dân" - và cũng chính là minh chứng sinh động cho đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng: một Đảng biết dựa vào dân, tin ở dân thì sẽ được dân tin, dân theo.

Nhân dân Hưng Yên vừa sản xuất vừa chiến đấu ( Ảnh:Sưu tầm).

NHỮNG NGƯỜI DÂN BÌNH DỊ VÀ NHỮNG CHIẾN CÔNG KHÔNG TÊN
Gần đây, tôi có dịp đọc kỹ cuốn Hưng Yên - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975). Có những trang sách khiến tôi đọc chậm lại, rồi lặng người. Bởi trong những trang sử tưởng như khô khan của chiến tranh lại hiện lên những con người rất đỗi bình thường. Họ là những người nông dân chân lấm tay bùn, sống giữa làng quê, ruộng đồng. Họ không có quân hàm, không đứng trên bục chỉ huy, không có tên tuổi vang danh. Nhưng trong những giờ phút hiểm nguy nhất, họ đã làm những việc phi thường.
Những năm 1950, thực dân Pháp mở rộng địa bàn xâm lược xuống Hưng Yên, Hải Phòng. Đường 5 trở thành một địa bàn chiến lược quan trọng. Quân và dân Hưng Yên đã dựa vào nhau, che chở cho nhau để tổ chức những trận đánh lớn. Tại thôn Kim Huy, xã Phan Đình Phùng, huyện Mỹ Hào (nay là tổ dân phố Kim Huy, phường Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), gia đình ông Nguyễn Văn Cường đã đào một căn hầm ngay giữa sân, cửa hầm thông vào lỗ cần cối giã gạo. Trong căn hầm ấy, nửa tiểu đội công binh được bí mật che giấu để chuẩn bị cho trận đánh trên đường 5.
Địch bao vây làng. Chúng nghi gia đình ông Cường có hầm bí mật. Chúng bắt ông cùng ba người con trai ra tra khảo, dọa rằng nếu ông không khai, cứ mười lăm phút chúng sẽ bắn một người con. Và chúng đã làm thật. Người con thứ nhất ngã xuống. Rồi người con thứ hai. Đến người con thứ ba, ông Cường vẫn không hé một lời.
Trong giây phút đau đớn tột cùng, người cha ấy đã phanh áo, chỉ vào ngực mình và hét lớn: "Hầm bí mật trong ngực tao đây này..." Tôi đọc đến đó mà nghẹn lại. Cái "hầm bí mật" lớn nhất đâu còn nằm dưới sân nhà. Nó đã nằm trong trái tim của một người cha, trong lòng trung thành với cách mạng, trong ý chí bảo vệ đồng đội - và cũng chính là trong lòng dân. Ba người con lần lượt hy sinh. Gia đình ông chấp nhận mất mát đến tận cùng để bảo toàn lực lượng cho bộ đội, góp phần vào thắng lợi của trận đánh mìn đường sắt, gây thiệt hại lớn cho quân địch. Một gia đình nông dân đã trở thành một pháo đài. Một người cha đã biến lồng ngực mình thành nơi cất giữ bí mật. Và một căn hầm nhỏ giữa làng quê đã trở thành biểu tượng của một thế trận lớn lao - thế trận lòng dân. 
Khi người nông dân đứng trước nòng súng
Cũng trong những trang hồi ký Đường 5 anh dũng quật khởi, tôi bắt gặp một câu chuyện khác về "người mò hầm". Khoảng tháng 8 năm 1953, trong một trận chống càn của bộ đội chủ lực Hưng Yên tại khu vực Chính Nghĩa, Kim Động (nay thuộc xã Lương Bằng, tỉnh Hưng Yên), địch bao vây làng và lùng sục từng nhà, từng bờ ao. Một số cán bộ, chiến sĩ phải rút xuống một căn hầm bí mật bên bờ ao. Địch bắt một thanh niên xuống nước, ép anh mò hầm tìm bộ đội. Trên bờ, những khẩu súng chĩa thẳng xuống. Bọn lính Pháp và tay sai liên tục quát hỏi. Người thanh niên vừa mò vừa trả lời: không có. Mò mãi vẫn không có gì.
Nhưng có một khoảnh khắc mà người đọc như nín thở. Bàn tay anh đã chạm vào chân người dưới hầm. Anh biết. Người dưới hầm cũng biết. Chỉ một cái chạm tay có thể quyết định sự sống còn của cả một nhóm cán bộ, chiến sĩ. Nhưng anh đã không phản bội. Anh rút tay ra, tiếp tục khuấy mạnh bùn nước, làm cho mặt ao đục ngầu lên. Quân địch không phát hiện được cửa hầm. Sau một hồi lùng sục vô vọng, chúng phải rút lui. 
Người thanh niên ấy là ông Nguyễn Văn Giáp - một người nông dân bình thường. Không áo giáp. Không vũ khí. Không cấp hàm. Chỉ có lòng can đảm. Chỉ có một niềm tin. Và chính niềm tin ấy đã giúp ông đứng trước những nòng súng của kẻ thù mà bảo vệ bộ đội.
Tôi nghĩ, kẻ thù có thể biết địa hình, biết đường đi, biết từng căn nhà, từng thửa ruộng. Nhưng chúng không thể hiểu được một điều: vì sao một người nông dân bình thường lại sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ những người lính mà có thể ông chẳng hề quen biết. Bởi chúng không hiểu lòng dân - thứ vũ khí mà không một đội quân xâm lược nào có thể trang bị được.
THẾ TRẬN VÔ HÌNH MÀ VĨ ĐẠI
Những câu chuyện ấy chỉ là vài lát cắt trong hàng trăm, hàng nghìn tấm gương của người dân vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng trong những năm tháng chiến tranh. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, tinh thần ấy lại được tiếp nối bằng những khẩu hiệu giản dị mà lay động: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người, tất cả cho tiền tuyến." Đằng sau mỗi cân thóc gửi ra tiền tuyến là mồ hôi của người nông dân. Đằng sau mỗi người con lên đường là nước mắt của một người mẹ, người cha, người vợ. Đằng sau mỗi chiến thắng là biết bao sự hy sinh thầm lặng mà lịch sử không thể ghi hết tên.

Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cờ hoa rực rỡ trên những con đường. Nhưng giữa niềm vui lớn lao của dân tộc, có biết bao mái nhà không còn tiếng bước chân của người thân trở về. Có những người mẹ đã tiễn con đi rồi lại tiễn con đi, để cuối cùng chỉ còn lại một khoảng trống trong căn nhà - "ba lần tiễn con đi, ba lần khóc thầm lặng lẽ...". Có những người vợ chờ chồng đến bạc tóc. Có những đứa trẻ lớn lên mà ký ức về cha chỉ còn là một tấm ảnh.
Những người dân "chân lấm tay bùn" ấy có thể không có tên trên những bảng vàng danh dự. Nhưng sự hy sinh của họ, với tôi, còn vĩnh hằng hơn bia đá. Bởi chính họ đã góp những viên gạch vô hình dựng nên thành trì của dân tộc. Thế trận lòng dân - một thế trận vô hình mà vĩ đại. Nó không có chiến hào, nhưng có niềm tin. Không có hàng rào thép, nhưng có sự đồng lòng. Không nhìn thấy bằng mắt, nhưng lại có sức mạnh che chở cho cả một cuộc chiến. Và đó cũng chính là kết quả của một đường lối cách mạng biết khơi dậy, quy tụ và phát huy sức mạnh ấy - đường lối do Đảng ta khởi xướng và dẫn dắt qua từng chặng đường lịch sử.
TỪ CHIẾN TRANH ĐẾN CUỘC SỐNG HÔM NAY
Câu thơ của Nguyễn Trãi đã đi qua hơn nửa thiên niên kỷ mà dường như vẫn còn nguyên sức sống. "Người chở thuyền và lật thuyền cũng là dân." Thuyền có thể lớn, sóng có thể mạnh, người cầm lái có thể tài giỏi, nhưng nếu không có lòng dân, con thuyền không thể đi xa.
Bởi vậy, trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng tư tưởng lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đại hội IV của Đảng (năm 1976) nhấn mạnh yêu cầu thực sự "phát huy quyền làm chủ của nhân dân". Đại hội VIII tiếp tục khẳng định: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân." Những bài học ấy không chỉ thuộc về chiến tranh. Trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay, lòng dân vẫn là nguồn sức mạnh căn bản. Không còn tiếng súng trên những cánh đồng. Không còn những trận càn qua làng. Nhưng vẫn còn những thử thách mới: phát triển kinh tế, xây dựng quê hương, giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống nhân dân và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong mỗi nhiệm vụ ấy, nếu có sự đồng thuận của nhân dân - nếu cấp ủy Đảng, chính quyền biết dựa vào dân, lắng nghe dân - thì việc khó đến đâu cũng có thể tìm được cách giải quyết.
Người thương binh không ngơi nghỉ
Có một câu chuyện khác mà tôi muốn kể, không phải qua trang sách hay lời kể của người khác, mà từ chính cuộc gặp gỡ của tôi. Cuối năm 2025, nhân dịp Hội nghị tổng kết công tác Hội Cựu chiến binh tỉnh Hưng Yên, tôi có cơ duyên được xếp ngồi cạnh một cựu chiến binh mà cái tên đã quá quen thuộc với người dân khắp vùng: lương y, Anh hùng Lao động Đào Viết Thoàn, sinh năm 1959 tại thôn Đồng Ấu, xã Đồng Bằng - vùng đất vốn thuộc tỉnh Thái Bình cũ, nay đã cùng chung một mái nhà Hưng Yên sau ngày hợp nhất. 
Năm 17 tuổi, khi đang là công nhân Nhà máy điện Uông Bí, chàng trai Đào Viết Thoàn tình nguyện nhập ngũ, trở thành người lính xe tăng thuộc Lữ đoàn 408, Quân khu 3. Năm 1979, trong một trận chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, ông trúng pháo cối của đối phương, bị thương quá nặng đến mức đồng đội đã nghĩ đến điều xấu nhất. Nửa tháng sau, ông mới tỉnh lại, được chuyển về điều trị tại Bệnh viện 108 rồi Bệnh viện Quân y 103 trong tình trạng chấn thương sọ não, hỏng một mắt phải thay mắt giả, mất nửa vành tai, gãy xương sườn, xẹp hai đốt sống, mất một phần cơ ở chân và mất xương bàn chân. Suốt hai năm ròng, ông phải trải qua gần chục lần phẫu thuật, nhiều lúc tưởng chừng không qua khỏi, nhưng nhờ sự tận tình cứu chữa của các y bác sĩ và sự động viên của người vợ thân yêu, ông đã gắng gượng sống và làm việc theo đúng lời Bác Hồ dạy: "Thương binh tàn nhưng không phế."
Ngày trở về, vết thương ở chân vẫn không lành, có nguy cơ hoại tử, ông được mách tìm đến một ngôi chùa ở ngoại thành Hà Nội, nhờ vị sư cụ trụ trì đắp thuốc nam cứu chữa. Trong những ngày dưỡng thương nơi cửa Phật ấy, ông vừa được đắp thuốc, vừa tranh thủ đọc thêm sách y học, dược học cổ truyền. Thấy người thương binh trẻ ham học hỏi, giàu nghị lực, sư cụ đã truyền lại cho ông bí quyết điều chế bài thuốc gia truyền. Ngày đoàn tụ gia đình, ông vẫn phải tập tễnh trên đôi nạng gỗ, vết thương còn tái phát nhiều lần, gia cảnh khó khăn trăm bề. Nhưng cũng chính từ đó, ông dồn hết tâm trí tìm hiểu thêm các loại thảo dược, bổ sung vào bài thuốc được truyền thụ, để rồi bào chế thành công bài thuốc “mỡ sinh cơ” chuyên trị bỏng và vết loét lâu liền - trước hết là để tự chữa cho mình, sau là chữa cho bà con trong xã.
Không chỉ dừng lại ở bài thuốc, ông còn trăn trở với nỗi đau của người bệnh mỗi lần thay băng - nỗi ám ảnh lớn nhất của bất cứ ai từng bị bỏng. Ông mày mò nghiên cứu, thay vì bôi thuốc trực tiếp lên gạc khô khiến gạc dính chặt vào vết thương gây đau đớn khi bóc ra, ông chuyển sang đắp thuốc trên lớp gạc đã tẩm nước muối sinh lý rồi vắt khô, giúp gạc không dính vào da thịt, giảm thiểu đau đớn cho bệnh nhân, đồng thời rút ngắn thời gian điều trị. Đề tài cải tiến ấy đã giúp ông giành giải Nhất Cuộc thi Sáng tạo Khoa học - Công nghệ và Kỹ thuật tỉnh Thái Bình, rồi giải Ba toàn quốc năm 2013.

Lương y, Anh hùng Lao động Đào Viết Thoàn chụp ảnh cùng bệnh nhân và tác giả tại cơ sở khám, chữa bệnh của gia đình.

Suốt gần 40 năm làm nghề, ông đã trực tiếp khám và điều trị thành công cho hơn 33.000 lượt người bệnh bị thương, bị bỏng từ khắp mọi miền đất nước tìm về, với tỷ lệ khỏi bệnh đạt 100%, không một trường hợp tử vong, không xảy ra tai biến. Khu điều trị nội trú mà bà con quen gọi là "nhà thương" của ông có hai dãy nhà với 20 giường bệnh sạch sẽ, tươm tất, không bao giờ để cảnh hai, ba bệnh nhân phải nằm ghép chung giường - có những lúc đông bệnh nhân, chính vợ chồng ông còn nhường cả giường ngủ của mình. Người vợ tần tảo của ông vẫn ngày ngày phụ chồng thay băng, đắp thuốc; ông bảo, kể cả ngày Tết, ông cũng luôn trong tâm thế sẵn sàng tiếp nhận bất cứ ca cấp cứu nào tìm đến. Tôi được biết, có những trường hợp cảm động như cháu bé mới hai tuổi ở tận Nghệ An bị bỏng nặng cả hai bàn tay do nghịch lửa, gia đình đưa đi khắp nơi mà bác sĩ đã tính đến phương án xấu nhất; vậy mà chỉ sau một thời gian được ông tận tình cứu chữa, đôi bàn tay bé nhỏ ấy đã lành lặn trở lại, khiến cả gia đình mừng đến rơi nước mắt. Đặc biệt, ông đã miễn hoàn toàn tiền thuốc, tiền công cho 9.587 bệnh nhân là đối tượng chính sách - Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình liệt sĩ, thương binh - và miễn toàn bộ chi phí giường nằm, điện, nước cho 18.586 bệnh nhân điều trị nội trú ngay tại cơ sở của gia đình. Không chỉ tận tâm với người bệnh, mỗi năm ông còn tự nguyện ủng hộ Quỹ Đền ơn đáp nghĩa của xã từ 25 đến 30 triệu đồng, tích cực tham gia cứu trợ đồng bào bị thiên tai, hỗ trợ biển đảo, và từng bỏ ra 250 triệu đồng để mở rộng, nâng cấp con đường vào thôn Đồng Ấu, góp phần xây dựng nông thôn mới ngay trên quê hương mình. Ghi nhận những cống hiến bền bỉ ấy, Đảng, Nhà nước đã trao tặng ông Huân chương Lao động hạng Ba, hạng Nhì, cùng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc, Anh hùng Lao động và Thầy thuốc Ưu tú.
Sau hội nghị hôm ấy, được ông nhiệt tình mời, tôi đã tranh thủ ghé thăm nhà ông, cũng chính là nơi ông đặt cơ sở khám chữa bệnh bấy lâu nay, chụp cùng ông vài tấm ảnh lưu niệm. Căn nhà không rộng, nhưng kín các bức tường là bằng khen, huân chương, giấy chứng nhận được treo ngay ngắn, trang trọng - dấu tích của gần bốn mươi năm cống hiến thầm lặng. Ông kể, nhiều đêm khuya vẫn có bệnh nhân từ xa tìm đến, gõ cửa xin được cứu chữa, và ông chưa từng nỡ từ chối ai. Nhìn cách ông ân cần thăm hỏi từng người bệnh đang chờ đến lượt, tôi hiểu vì sao suốt bao năm qua, cái tên "ông Thoàn bỏng" lại được người dân khắp nơi tin cậy, gửi gắm đến vậy.
Tôi vẫn nghĩ, một người lính có thể rời chiến trường, nhưng không bao giờ rời trận tuyến vì dân. Ông Thoàn đã đổi vết thương chiến tranh của mình thành đôi bàn tay chữa lành cho hàng vạn con người xa lạ - đó cũng chính là một cách "chở thuyền" theo đúng nghĩa mà Nguyễn Trãi từng viết, chỉ khác rằng con thuyền ấy chở theo nỗi đau của đồng bào, và người chèo lái là một thương binh mang đầy thương tích trên mình. Cuộc gặp gỡ tình cờ ấy, cùng buổi ghé thăm ngắn ngủi tại chính căn nhà - cơ sở khám chữa bệnh của ông, đã để lại trong tôi một niềm tin sâu sắc: lòng dân, suy cho cùng, không chỉ được viết bằng máu trong chiến tranh, mà còn được viết bằng cả những giọt mồ hôi thầm lặng của những người lính trở về giữa đời thường.
Đêm trên cầu Yên Lệnh
Đêm nay, đứng trên cầu Yên Lệnh, đón những cơn gió từ sông Hồng thổi về mát rượi, tôi nhìn thành phố Hưng Yên lên đèn. Những ánh đèn trải dài trong đêm. Từng ô cửa sáng. Những con đường lung linh. Một vùng đất bên dòng sông Hồng đang chuyển mình mạnh mẽ. Tôi bỗng nghĩ: điều gì đã làm nên sự đổi thay ấy? Phải chăng, đó chính là bàn tay và khối óc của những người dân châu thổ sông Hồng - những người đã từng cầm cuốc trên đồng, từng giấu bộ đội dưới căn hầm bí mật, từng gửi từng cân thóc ra tiền tuyến, những người mẹ từng gạt nước mắt tiễn con? Và hôm nay, cũng chính những người dân ấy đang dựng xây quê hương bằng một sức mạnh khác - không còn là chiến hào và súng đạn, mà là những con đường mới mở, những nhà máy mọc lên, những sản phẩm mang thương hiệu quê nhà.
Đứng giữa cây cầu bắc qua sông, giữa hai bờ ký ức và hiện tại, tôi hiểu rằng: lòng dân của ngày hôm qua và sức dân của ngày hôm nay, suy cho cùng, chỉ là một - đó là dòng chảy không đứt đoạn của niềm tin giữa nhân dân với Đảng, với con đường mà dân tộc đã chọn.
SỨC DÂN TRONG NHỮNG NGÀY ĐỔI MỚI
Nếu trong những năm tháng chiến tranh, sức mạnh của nhân dân được kết thành những chiến hào, những căn hầm bí mật, những đoàn quân ra trận, thì trong những ngày đất nước đổi mới, sức mạnh ấy lại hiện lên theo một cách khác. Đó là những con đường mới mở qua cánh đồng. Là những cây cầu nối đôi bờ sông. Là những nhà máy, doanh nghiệp mọc lên từ những vùng quê. Là những người nông dân không còn chỉ nghĩ đến chuyện "đủ ăn", mà đã biết nghĩ đến thị trường, thương hiệu, tiêu chuẩn, xuất khẩu. Và cũng chính từ những bàn tay từng cấy lúa, trồng nhãn, chăm sen, gieo đậu trên những thửa ruộng quê nhà, những sản phẩm mang hương vị của đất Hưng Yên đã bắt đầu đi xa hơn, vượt qua những con đường làng, vượt qua biên giới, đến với nhiều thị trường trên thế giới.
Đứng trên một cây cầu mới, nhìn dòng xe nối nhau đi qua, tôi chợt nghĩ về hai chữ "sức dân". Con đường không tự nhiên mà có. Cây cầu không tự nhiên mà dựng nên. Những vùng quê không thể tự mình đổi thay nếu không có mồ hôi, trí tuệ và khát vọng của con người - và không thể thiếu vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc định hướng, huy động sức dân, tạo sự đồng thuận trong từng chủ trương, từng phong trào. Ngày trước, những con đường làng có khi chỉ là những lối đất nhỏ, mưa xuống thì lầy lội, mùa gặt xe cộ đi lại khó khăn. Hôm nay, đường bê tông, đường nhựa mở rộng về tận những vùng quê. Những cây cầu nối những bờ sông, rút ngắn khoảng cách giữa làng quê với phố thị. Hàng hóa từ cánh đồng có thể nhanh chóng đến nhà máy, từ nhà máy đi đến những trung tâm phân phối, rồi từ đó đi xa hơn nữa. Đường mở đến đâu, cơ hội mở đến đó. Nhưng đường chỉ là điều kiện. Người làm nên sự đổi thay cuối cùng vẫn là con người.

Đường nối Tân Phúc - Võng Phan - La Tiến.

Không chỉ những con đường cao tốc mới nối liền các vùng miền, mà cả những dòng sông quê hương cũng đang được đánh thức từng ngày. Trên sông Luộc, sông Hồng, từng đoàn tàu, thuyền chở hàng vẫn cần mẫn xuôi ngược ngày đêm, mang theo hơi thở của biển cả về gần hơn với Thủ đô Hà Nội, nối những cánh đồng, những làng nghề của Hưng Yên hôm nay - một Hưng Yên đã có thêm dáng hình của biển sau ngày hợp nhất với Thái Bình cũ - với trái tim của cả nước. Cầu Yên Lệnh bắc qua sông Hồng - từng là cây cầu bê tông dài nhất vượt sông Hồng khi được khánh thành - cũng chính là một trong những nhịp cầu như thế, nối liền đôi bờ, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng quê. Và trong tương lai, khi sân bay quốc tế Hưng Yên - dự kiến được nghiên cứu đầu tư tại xã Đồng Châu, miền quê ven biển của Hưng Yên hôm nay - trở thành hiện thực, mảnh đất này sẽ có thêm một đôi cánh mới để những ước mơ, những sản vật, những con người nơi đây vươn xa hơn nữa, sánh vai cùng khát vọng phát triển của cả đất nước, vươn ra thế giới.
Tôi nghĩ đến những doanh nghiệp đang từng ngày lớn lên trên quê hương. Có những doanh nghiệp bắt đầu từ một cơ sở nhỏ, từ vài con người, một ý tưởng và một chút vốn liếng. Vậy mà bằng sự bền bỉ, năng động, dám nghĩ, dám làm, họ từng bước mở rộng sản xuất, tạo việc làm cho người lao động, đưa máy móc, công nghệ về với nông thôn. Doanh nghiệp không chỉ làm ra sản phẩm. Doanh nghiệp còn mở ra một cách nghĩ mới: từ người sản xuất đơn lẻ đến liên kết sản xuất, từ làm ra cái mình có đến làm ra cái thị trường cần, từ bán sản phẩm thô đến xây dựng thương hiệu, từ một làng quê nhỏ bé đến khát vọng đưa sản phẩm quê hương ra thế giới.
Đó cũng là một dạng "thế trận" - một thế trận của lao động, trí tuệ, sáng tạo và khát vọng làm giàu chính đáng. Và trong thế trận ấy, người nông dân chính là những người lính trên mặt trận mới. Tôi đặc biệt xúc động khi nghĩ về những người nông dân hôm nay. Họ vẫn là những con người gắn với ruộng đồng, với nắng mưa, với mùa vụ. Nhưng người nông dân của hôm nay đã khác trước rất nhiều. Họ biết tính toán thời vụ. Biết ứng dụng khoa học kỹ thuật. Biết quan tâm đến chất lượng và an toàn thực phẩm. Biết đóng gói, bảo quản. Biết truy xuất nguồn gốc. Biết tìm hiểu thị trường. Và quan trọng hơn, họ đã bắt đầu hiểu rằng một trái nhãn, một quả dưa, một hạt đậu... nếu được chăm sóc bằng khoa học, tổ chức bằng liên kết và nâng lên thành thương hiệu, thì giá trị của nó không chỉ nằm trên mảnh đất quê mình - nó có thể đi rất xa.
Tôi từng nghĩ, một quả nhãn Hưng Yên có gì đặc biệt? Rồi tôi nhận ra: trong một quả nhãn nhỏ bé ấy có đất, có nước, có nắng, có phù sa sông Hồng và có cả bàn tay của người trồng nhãn. Có những buổi sớm người nông dân đã ra vườn. Có những trưa hè đứng dưới cái nắng bỏng rát. Có những mùa mất mùa, những năm giá xuống. Có những lúc phải lo từng đồng vốn, từng chuyến hàng. Nhưng họ vẫn bám đất. Vẫn chăm cây. Vẫn hy vọng. Để rồi một ngày, sản phẩm từ những vườn cây quê nhà có thể bước ra những thị trường rộng lớn hơn. Từ quả nhãn, tôi lại nghĩ đến những đầm sen, những ruộng dưa, những vùng trồng đậu... Những sản vật tưởng như rất đỗi bình dị ấy đang được người dân và doanh nghiệp tìm cách nâng cao giá trị. Đằng sau mỗi sản phẩm xuất khẩu không chỉ là một món hàng. Đó còn là câu chuyện về quê hương. Là câu chuyện của người nông dân. Là danh dự của một vùng đất. Và cũng là hình ảnh của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Người dân xã Tống Trân thu hoạch vải lai chín sớm, một trong những cây trồng mang lại giá trị kinh tế cho địa phương.

Ngày trước, người dân Hưng Yên góp thóc, góp người cho tiền tuyến. Hôm nay, cũng những người dân ấy đang góp sức xây dựng quê hương bằng những mùa vàng, những sản phẩm hàng hóa, những mô hình sản xuất mới. Nếu ngày trước, họ giữ làng, giữ nước bằng lòng dũng cảm, thì hôm nay họ giữ gìn và làm giàu cho quê hương bằng lao động, trí tuệ và khát vọng vươn lên. Tôi càng nghĩ càng thấy câu thơ của Nguyễn Trãi vẫn còn nguyên ý nghĩa: "Phúc chu thủy tín dân do thủy." Người chở thuyền cũng là dân. Người làm cho quê hương đổi mới cũng là dân. Người tạo ra của cải cũng là dân. Người mở đường, xây cầu, dựng nhà máy, gieo trồng trên những cánh đồng và đưa sản phẩm Việt Nam ra thế giới - cũng là dân.
Nếu trong chiến tranh, lòng dân tạo nên sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc, thì trong thời kỳ đổi mới, sức dân tạo nên nguồn lực để phát triển đất nước. Một đất nước muốn đi xa phải có những con đường rộng mở. Nhưng một đất nước muốn đi nhanh và đi bền vững còn phải có những con người biết đi trên những con đường ấy bằng khát vọng và trí tuệ của mình - và phải có một Đảng biết khơi dậy, quy tụ và dẫn dắt khát vọng ấy đi đúng hướng.
Tôi đứng trên cầu, nhìn những chuyến xe nối nhau trong ánh chiều. Có chuyến xe chở vật liệu. Có chuyến xe chở hàng hóa. Có chuyến xe từ nhà máy về làng. Có chuyến xe mang sản vật của đồng quê đi đến những miền đất khác. Tôi bỗng thấy những con đường hôm nay giống như những mạch máu của quê hương. Đường giao thông đưa hàng hóa đi xa. Doanh nghiệp tạo ra việc làm. Nông dân tạo ra sản phẩm. Khoa học và công nghệ nâng cao giá trị. Thị trường mở rộng cánh cửa. Và lòng dân chính là nguồn lực kết nối tất cả những điều ấy.

Tuyến đê tả sông Luộc nhìn từ trên cao, một góc diện mạo Tống Trân đang từng ngày đổi mới.

Hưng Yên hôm nay không chỉ có những vườn nhãn trĩu quả. Hưng Yên còn có những con người đang thay đổi cách nghĩ, cách làm. Từ người nông dân đến doanh nhân. Từ người lao động đến những cán bộ, kỹ sư. Từ những người trẻ trở về quê hương khởi nghiệp đến những người đã dành cả cuộc đời gắn bó với đồng ruộng. Mỗi người một công việc, một vị trí, một ước mơ, nhưng cùng góp vào một dòng chảy chung - dòng chảy của sự đổi mới.
THẾ TRẬN LÒNG DÂN HÔM NAY - NỀN TẢNG CỦA NIỀM TIN
Tôi tin rằng đó chính là sức mạnh lớn nhất của quê hương. Không phải những điều gì quá xa vời. Sức mạnh ấy bắt đầu từ một người nông dân chịu khó học cách trồng một giống cây mới. Bắt đầu từ một doanh nghiệp dám đầu tư vào công nghệ. Bắt đầu từ một con đường được mở rộng. Bắt đầu từ một cây cầu nối những vùng quê. Bắt đầu từ một sản phẩm được làm tử tế và mang tên quê hương đi xa. Nhìn những sản phẩm nông nghiệp Việt Nam ngày càng có cơ hội bước vào thị trường quốc tế, tôi càng thêm tự hào. Bởi phía sau những sản phẩm ấy là cả một vùng đất: có mồ hôi của người nông dân, có trí tuệ của doanh nghiệp, có khoa học của những người kỹ thuật, có sự đồng hành của cấp ủy, chính quyền, và có sức mạnh của cộng đồng.
Đó chính là thế trận lòng dân trong thời bình. Một thế trận không tiếng súng nhưng vẫn cần bản lĩnh. Không có chiến hào nhưng vẫn cần sự đoàn kết. Không có quân phục nhưng mỗi người đều đang đứng trên một mặt trận - mặt trận xây dựng quê hương, làm giàu cho đất nước và nâng cao giá trị của con người Việt Nam. Và ở mặt trận ấy, vai trò của mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên gần dân, sát dân, biết lắng nghe và khơi dậy sức dân, chính là nhân tố quyết định để "thế trận lòng dân" luôn được bồi đắp, không đứt gãy qua các thế hệ.
Từ câu thơ của Nguyễn Trãi, tôi lại nghĩ đến ngày hôm nay. Con thuyền đất nước đang ra biển lớn. Sóng ngoài kia chắc chắn còn nhiều. Con đường phía trước cũng không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Nhưng tôi tin, nếu có lòng dân, có sức dân, có trí tuệ và khát vọng của nhân dân, dưới sự dẫn dắt của một Đảng biết đặt lợi ích của dân lên trên hết, con thuyền ấy sẽ đủ sức vượt qua những con sóng lớn.
Và biết đâu, một ngày không xa, khi một người ở một miền đất nào đó trên thế giới thưởng thức một trái nhãn Hưng Yên, một sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, họ sẽ biết rằng đằng sau hương vị ấy là một vùng đất bên dòng sông Hồng; là những người nông dân đã gửi vào sản phẩm của mình mồ hôi, tình yêu và niềm tự hào.
Tôi tin vào sức dân. Tin vào những bàn tay đang làm nên những mùa vàng. Tin vào những doanh nghiệp đang vươn lên. Tin vào những con đường đang mở. Tin vào những cây cầu nối những bờ vui. Và tin vào một quê hương đang từng ngày đổi mới bằng chính sức mạnh của nhân dân mình, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nếu ngày hôm qua, lòng dân là thành lũy giữ nước, thì hôm nay, sức dân là động lực dựng xây đất nước. Con thuyền Việt Nam đang đi. Và điều làm tôi tin tưởng nhất là trên con thuyền ấy, hàng triệu người dân - trong đó có những người dân quê hương Tống Trân, Hưng Yên - vẫn đang cùng chung tay chèo lái, dưới ngọn cờ của Đảng. Như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhiều lần nhấn mạnh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang cùng nhau quyết tâm đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Và tôi tin, với lòng dân làm nền, với sức dân làm lực, con thuyền đất nước ấy nhất định sẽ đến được bến bờ vinh quang.

 

Đoàn Khâm

Bạn đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ công trực tuyến?

Ý kiến của bạn giúp chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Ý KIẾN NGƯỜI DÙNG

Kết quả đánh giá

Chất lượng dịch vụ công trực tuyến

271lượt đánh giá được ghi nhận
Rất hài lòng55%
148 lượt đánh giá
Hài lòng10%
27 lượt đánh giá
Bình thường10%
26 lượt đánh giá
Không hài lòng5%
14 lượt đánh giá
Ý kiến khác21%
56 lượt đánh giá
Cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!
1.713.853
Tổng truy cập
809
Truy cập hôm nay
13
Đang online